Bùi Xuân Nho (Bùi Xuân Vũ)
08.03.2010 16:32
Dấu Chân Xưa. Tu là gì? Tình là cái chi chi? Câu hỏi khá đơn giản, có trước khi Khai Phá ra đời. Tuy nhiên, câu trả lời lại không dễ làm xuôi tai người nghe. Lý do, đường tình, đường tu ai có qua cầu mới hay. Nếu trong Lan và Ðiệp, tu được coi là việc tự cắt đứt dây& chuông thì chữ tình lại như con Bướm vấn vương không lối thoát. Giây chuông đã dút mà hồn Bướm vẫn mơ về thời yêu dấu cũ. Nhưng, trong Hai Tâm Hồn, chữ tu cho thấy một sự vẹn toàn của tâm hồn đổi trao với lòng mếân đơn sơ để cho người mình yêu. Chữ tình dồn hết năng lực cho chữ tu, nên không có vòng tay ấm lạnh bên ngoài. Theo đó, chữ tình của trần thế chỉ là phần phụ thuộc, không thể ươm tơ được. Ðến khi đọc trong Khai Phá luận, người ta lại tình cờ khám phá ra hai lối định nghĩa mới về chữ tu và chữ tình:
Thứ nhất: Tu là tự hiến làm thân Bánh Miến bẻ ra cho mọi người, và Ẫlà người không thuộc về minhỮ ( VDT, định nghĩa).
Thứ hai: Tình là sợi giây thung, các bà các cô thường dùng để buộc vào cổ& chân các thầy, các chú và gọi: Anh ơi ra ngoài ở với em cho nó vui! Ðàn ông, đàn bà ở một mình không& khoái anh ạ! (Hình như định nghĩa này của Nguyễn quang Tuyên?)
Ai không tin cái định nghĩa sau này thì cú hỏi các bà& Liên, Thanh, Dịu, Dung, Huệ, Anh& và các thầy Tòng, Tốn hoặc chú Tuyên, Tiến, Nho& và các ông cầm cày còn ngoảnh mặt lại phía sau lưng thì biết ngay. Nhưng nếu câu hỏi này được đặt ra vào thời điểm cách đây gần bốn mươi năm về trước, tôi tin là các chú Khai Phá ngày ấy đều ngọng, chẳng biết đường nào mà trả lời. Tôi cũng không có ngoại lệ. Bởi lẽ, vào đúng lúc tôi sửa soạn thi vào lớp đệ thất của trường công lập Xuân Lộc, mẹ tôi bảo:
- Con muốn đi tu không?
- Ði tu làm gì hả mẹ?
Mẹ tôi giải thích một cách rất bình thản:
- Thì con đi tu như các thầy, các cha& ấy mà!
Nghe thế, hình ảnh của những người bà con đi tu, đã làm thày, làm Linh Mục thỉnh thoảng về quê và ghé nhà thăm ba mẹ tôi hiện lên trong trí nhớ, tôi trả lời:
- Thôi mẹ ạ, con sắp thi vào lớp đệ thất rồi.
- Con liệu có đậu hay không?
- Chắc ăn chứ mẹ. Mẹ không nhớ là khi con đang học lớp nhì, ông Hiệu Trưởng đến bảo với thày mẹ, năm nay là năm thi tiểu học cuối cùng, tôi sẽ tuyển vài em lớp nhì và một số học sinh khá ở lớp nhất đi dự thi để lấy tiếng cho nhà trường. Và con là một trong hai đứa học sinh lớp nhì được chọn đi thi, mẹ không nhớ à?
- Mẹ nghĩ là con sẽ đậu vào trường công, nhưng con phải đi xe đạp bẩy tám cây số một ngày, mẹ lo lắng lắm. Nếu con thích thì mẹ gởi con lên cha bác, để cha giúp cho con việc học hành.
Tôi ngần ngừ một lúc rồi nói:
- Vậy cũng được. Nhưng con đi bao lâu mới được về hả mẹ?
- Con lên trên ấy học, chỉ hè mới về nhà với thày mẹ thôi.
- Sao mà lâu thế.
Tôi không ngờ câu trả lới ấy làm thay đổi hẳn cuộc sống của tôi vào thời gian đó và ảnh hưởng nhiều đến đời sống của tôi sau này. Trước hết, tôi không vùi đầu vào bài ôn để thi vào lớp đệ thất nữa, dù tôi vẫn đi thi. Thay vào đó là những câu chuyện vặt với mẹ tôi về chữ tu. Dĩ nhiên, mẹ tôi không mở rộng tầm mắt cho tôi được nhiều hơn là những chuyện người nghe và sống.
Nói như thế, nhưng thật ra, tôi quên những câu chuyện về nhà tu khá nhanh. Bởi vì, khi tai tôi nghe tiếng gọi từ đầu ngõ là lao đầu vào những trò chơi với những đứa trẻ cùng trang lứa, trong lối xóm. Chả một ngõ ngách, miếng đất trống nào mà không có mặt bọn tôi vào buổi chiều với những trò chơi ngô nghê vụng dại như đá loong, đánh bi, đánh vụ, chơi khăng. Còn buổi trưa hè rảnh rỗi thì rủ nhau đi tắm suối, đi tìm tổ chim non. Dĩ nhiên, những lúc đi tắm suối, chúng tôi cứ việc tụt bỏ quần áo ra và nhảy úm xuống dòng nước. Chả một đứa nào thèm để ý đến chuyện ông Adong và bà Eva mặc quần áo ra làm sao. Có lúc đang tám như thế, gặp bọn con gái cùng lớp đi qua, một tên rắn mắt nhất ở trong lớp tôi là Vũ văn Cui liền nhẩy phóc lên bờ reo hò ầm ỹ. Giời ạ, sau này , nó vào dòng Ðồng Công và làm thầy già chu chu chăm chắm, nhưng khi Việt Cộng mò vào Sài Gòn, nó bị đứa em gái họ của tôi, cũng từ nhà dòng về, kẹp cổ và lôi nó ra ngoài cho nó vui rồi&
Sau ngày đi thi vào lớp đệ thất, mẹ tôi hay dẫn tôi đi chợ. Khi thì mua cho tôi một ít sách vở , lúc khác vài bộ quần áo hay cái khăn mặt, bàn chải đấnh răng mới. Cuối cùng là một cái valy nhỏ mà mẹ tôi bảo là để cho con đựng sách vở và quần áo lúc con lên đường. Nhìn gói hành trang gồm mấy bộ quần áo, vài ba thứ đồ dùng lặt vặt và mấy cuốn vở cũ nằm gọn ghẽ trong cái valy mới mua, lòng tôi thấy xao xuyến và nhớ bạn bè lối xóm ghê gớm lắm. Tuy nhiên, trong cái thương nhớ đám bạn học cùng lối xóm vẫn có một niềm hãnh diện tự hào len lén dâng lên ở trong lòng một cậu bé ở quê sắp lên tỉnh trọ học. Buổi chiều trước ngày tay sách va ly bằng da lên đường, mẹ tôi dẫn tôi đi thăm những người bà con ruột thịt. Việc làm của mẹ tôi không ngoài mục đích, xin họ thêm lời cầu nguyện cho cháu! Khi tôi về đến nhà, thằng Cui phóng thẳng vào sân, gọi lớn tiếng:
- Nho ơi, mày có nhà không?
Nghe tiếng nó, tôi chạy ra. Thằng Cui nom thấy tôi, vội vàng hớn hở báo cho tôi một bản tin nhớn:
- Mày không đi xem kết quả thi à? Tao vừa đi về đây. Cả lớp mình chỉ có hai đứa, mày và tao đậu vào trường công thôi. Thằng Văn bám được tý vẩy, nó có tên dự khuyết!
Tôi mất hết hứng khởi bảo nó:
- Ngày mai tao phải lên ở nhà cha bác tao để đi học rồi.
- Oâng ấy ở đâu?
- Nghe nói gần Biên Hòa mà tao chả biết là chỗ nào.
Tự nhiên thằng Cui, một thằng ganh với tôi quanh năm vì điểm học, nó rất ngổ ngáo nhưng lại là thằng sẽ về phía tôi khi một kẻ thứ ba nào dám đụng đến tôi:
- Mày bỏ trường công à?
- Chắc vậy, bởi mẹ tao đã gủi tao lên nhà ông cha Tụng rồi.
- Mày tính đi tu à?
- Tao không biết, nhưng chắc là chỉ đi học thôi.
- Buồn nhỉ? Vậy là tao hết bạn rồi. Chả có thằng nào vào trường công với tao.
- Mày sẽ có thiếu gì bạn mới.
- Nhưng chắc không vui.
Nói xong, nó cầm lấy tay tôi dặn dò:
- Mày học ở trên ấy không thích thì nhớ về sớm nhá.
- Ừ.
Aên cơm xong, nhà tôi chật ních người. Oâng Sơn, người có con tên là Hải đang học lớp đệ tam ở chủng viện Phan Rang, cũng do cha bác của tôi đỡ đầu, đến chơi và bàn bạc với ba tôi về chuyến đi ngày hôm sau. Oâng đến được một lúc thì bố của Bùi Ðức Hiền dẫn nó lại nhà tôi. Chỉ đến khi ấy tôi mới biết rằng, Bùi đức Hiền sẽ có mặt trong chuyến đi ngày mai với tôi. Tự nhiên, tôi thấy mình không lẻ loi. Bởi sẽ có một tên cùng làng, cùng xóm, cùng lớp, cùng làm chuyến đi này với mình.
Ðêm ấy, tôi không làm sao ngủ được. Mẹ tôi cho tôi nắm gối đầu lên tay của bà. Bà dặn dò và nói với tôi rất nhiều điều. Những điều ấy tôi không nhớ hết, nhưng căn bản là dặn bảo:
- Con phải ngoan ngoãn lễ phép với cha và với mọi người nơi con sẽ đến. Con nhớ học hành cẩn thận hẳn hoi, vì mẹ không còn chăm sóc cho con như những ngày thường được nữa.
Kế đến bà còn cẩn thận bảo tôi phải đoc kinh tôi sớm, lại phải tự mình lo tắm rửa mỗi ngày và tự giặt giũ lấy quần áo cho mình. Nghe thế tôi liền hỏi:
- Hay là con ở nhà với mẹ, vì con đã đậu vào trường công rồi.
- Không con ạ, con chả nên theo cái điều giả trá hư vô ấy, con cứ lên ở chỗ cha bác và người sẽ lo cho con thì hơn!
Sáng hôm sau đoàn lữ hành lên đường gồm có năm người. Hai cha con tôi, hai cha con Bùi Ðức Hiền và ông Sơn. Oâng Sơn là người đã dẫn Nguyễn tâm Hải đi về nhiều lần nên được đề cử làm người hướng đạo. Riêng bố tôi tuy là rể, vai em, nhưng lại ít khi đi về bên nhà xứ của ngài. Ðoạn đường dài đầu tiên ra khỏi nhà cho tôi thêm một ít hứng khởi. Thằng bé con đã ngỡ ngàng nhìn bến xe Biên Hòa và thành phố này, rồi chân run như con cầy xấy khi được dẫn xuống bến tàu Biên Hòa. Tôi đã nhìn con sông Ðồng Nai thật rộng trước mặt và hỏi ba tôi:
- Mình phải đi tàu hả ba? Ði qua sông hay là đi đâu vậy?
- Ði Long Phước Thôn con ạ?
- Long Phước ở đâu hả bố. Nó cách đây có xa không?
- Chừng năm bảy cây số gì đó con ạ.
Tôi đi vào trong lòng chiếc canô không lớn, nhưng đầy những quang gánh của lái buôn hoặc là người đi chợ xa về. Thấy nó lắc lư, tôi mất tự tin, ngồi xuống băng ghế trống. Cùng lúc ấy, ôâng Sơn đem đến cho mỗi người một ở bánh mỳ:
- Aên tạm miếng bánh các ông ạ. Sang đến Long Phước, vào nhà xứ, cha mời cơm trưa là vừa.
Tôi cầm lấy ổ bánh, chạy dọc theo thân tàu một vòng rồi đến ngồi phía sau lưng người tài công chiếc ca nô để nhìn ra ngoài. Trên đường về Long Phươc, chiếc ca nô ghé lại nhiều nơi khác nhau, nhưng tôi không còn nhớ đó là những bến nào. Khoảng một giờ trưa, người tài công chochiếc ca nô vào bến đáp quen thuộc, sau đó kéo giây buộc chặt con tàu vào cái cọc bên cây cầu lên xuống. Oâng Sơn bảo:
- Ðến rồi, tôi nói có sai đâu, chỉ quá trưa là mình sẽ đến nơi.
Mọi người lục tục tay sách nách mang kéo nhau ra khỏi chiếc ca nô. Vừa lên bờ là khu chợ nhỏ, đoàn lữ hành lẳng lặng đi qua trước những đôi mắt bình thường của nhiều cư dân trong vùng. Mãi sau này, tôi mới hiểu được rằng, vào thời điểm này, nơi nhà xứ của cha Tụng có rất nhiều khách ra vào. Thường là các cha, các thày trong linh tông như cha Nguyễn Khắc Tuần, cha Tước, cha Thản, cha Thư. cha Tuyến và trẻ hơn là cha Vượng, cha Tuynh ... các thày Tụng, thày Tường, thầy Thăng. Rồi các chú ở chủng viện về nghỉ hè như Ðoài, Hải, Thịnh, Thượng, Chiểu& trong năm người sau này, nay còn lại ba. Ðến các cậu ngơ ngác như chúng tôi lên đây lần đầu tiên. Hoặc giả là người ta đưa con gái đến xin cha nhận vào tu trong chi nhánh của tu viện Mến Thánh Giá Thái Bình do ngài quản nhiệm cũng ở Long Phước Thôn này .
Ði qua khu chợ, con đường chính chia ra hai rẽ. Một về hướng tay trái dẫn về nhà xứ của cha Hoàng Ðắc Tụng, cựu linh hướng của chủng viện Phan Rang, Thái Bình, nơi tôi sẽ đến. Ngã đi về hướng bên tay phải dẫn đến nhà xứ Cao Thái của cha già Vĩnh. Con đường cát tráng không lớn lắm và cũng không thẳng tắp dẫn vào cửa chính ở cuối nhà thờ, nằm cách khu chợ chừng bẩy, tám trăm mét. Dân cư ở đây nom rất nghèo. Phương tiện chính của họ là đi bộ, thỉnh thoảng mới nom thấy chiếc xe đạp. Ða số sống về nghề nông và một ít thì sống với nghề chài lưới. Cuộc sống ở đây hoàn toàn khác biệt với sinh hoạt ở quê tôi. Nhà thờ, đọc lại trong trí nhờ cửa tôi thì không lớn lắm. Nhưng nó có một điểm khá đặc biệt là mình nó rất cao. Phải bước sáu, bẩy bậĩc mới lên tời nền nhà thờ. Khu nhà xứ nằm ở phía đầu nhà thờ, nom khá rộng rãi và khang trang. Nó được kiến trúc theo hình chữ U nên có vẻ như muốn ôm gọn lấy nhà thờ. Căn nhà ở giữa cao hẳn lên. Có gác thượng, có hành lang đi trong mái hiên.
Tường quyét vôi trắng, nền lót gạch bông và ngay phía sau là một cái ao khá lớn, trước nuôi cá phi, nhưng khi nước lớn, cá mất dần, không phát triển. Khu nhà hai bên cánh chữ U đơn giản hơn. Nó nằm khiềm nhường giang ra như dôi cánh để bảo vệ cho khu nhà chính ở giữa. Tuy thế, trong đôi cánh này lại có nhiều phòng dành cho thầy xứ, các cậu, các chù ở. Rồi nối dài theo khu nhà ở phía tay phải, nếu đứng từ của nhà xứ nhìn ra nhà nhà thờ là khu trường tiểu học. Nối liền từ nhà thờ vào nhà xứ là một lối đi khá rộng. Nó được đăp cao, nhô hẳn mình lên trên đất vườn. Phía trên mặt lối đi, không tráng nhựa, không đổ xi măng, được đặt cách quãng bằng những miếng xi măng rải rác theo từng bước chân người dẫn vào ngay của chính nhà xứ. Bước hết bậc tam cấp là đặt chân lên hành lang trong mái hiên. Sau hàng hiên rộng, cánh cửa lớn mở ra, đó là căn phòng khách của nhà xứ. Căn phòng này khá rộng, một nửa bên trong, không có bức vách ngăn là phòng ăn của cha sở. Trong những bữa tiệc đại trào như ngày lễ mừng khánh thọ của cha chính Cao Xuân Túc, bọn chúng tôi cũng được mon men ngồi ké ở đây một lần. Ngoài ra chỉ dành cho cha sở, các cha khách. Các thày các chú, các cậu thì có phòng khác.
Cha Tụng năm ấy mới ngoài năm mươi, dáng người tầm vóc, ngồi nguyên trên ghế, bỏ đôi dũa xuống trong lúc ông Sơn trình diện cho cha hai chú bé vừa đến:
- Cháu này tên Nho, con ông chú Thìn. Cháu này tên Hiền, con của ông Hiện. Xin cha thương nhận và chỉ bảo cho chúng như chúng con đã có nhời thưa trước với cha khi cha ghé về thăm nhà quê.
Cha Tụng gật đầu. Hỏi:
- Mẹ nó đâu? Cô ấy không đi à?
- Thưa không.
- Cô ấy và các chú khỏe cả chứ?
Cùng lúc ấy, ông Sơn lôi ra từ cái giỏ cói hai cặp gà to tướng gọi là chút lễ mọn biếu cha vào ngày các cháu nhập trướng. Cha cười nhẹ, bảo:
- Sao các chú đem cho nhiều thế?
Tiếng ngài vừa dứt, một hồi chuông nhỏ để trên bàn reo vang. Tôi thấy lạ vội đảo mắt nhìn quanh. Một ông già khoảng ngoài năm mươi, sau này tôi biết tên ông ta là Ry, khúm núm bước vào từ cánh cửa bên hông.
- Lạy cha cho gọi.
Cha Tụng quay lại bảo:
- Oâng liệu đem vài đôi gà và hoa quả kia ra nhà phước.
- Trình lạy cha vâng ạ.
Sơn trình diện cho cha hai chú bé vừa đến:
- Cháu này tên Nho, con ông chú Thìn. Cháu này tên Hiền, con của ông Hiện. Xin cha thương nhận và chỉ bảo cho chúng như chúng con đã có nhời thưa trước với cha khi cha ghé về thăm nhà quê.
Cha Tụng gật đầu. Hỏi:
- Mẹ nó đâu? Cô ấy không đi à?
- Thưa không.
- Cô ấy và các chú khỏe cả chứ?
Cùng lúc ấy, ông Sơn lôi ra từ cái giỏ cói hai cặp gà to tướng gọi là chút lễ mọn biếu cha vào ngày các cháu nhập trướng. Cha cười nhẹ, bảo:
- Sao các chú đem cho nhiều thế?
Tiếng ngài vừa dứt, một hồi chuông nhỏ để trên bàn reo vang. Tôi thấy lạ vội đảo mắt nhìn quanh. Một ông già khoảng ngoài năm mươi, sau này tôi biết tên ông ta là Ry, khúm núm bước vào từ cánh cửa bên hông.
- Lạy cha cho gọi.
Cha Tụng quay lại bảo:
- Oâng liệu đem vài đôi gà và hoa quả kia ra nhà phước.
- Trình lạy cha vâng ạ.
Cùng với câu trình bẩm, ông ta bước đến chào khách và hỏi bố tôi:
- Nghe có ông chú sang chơi, nay mới được gặp. Oâng chú sang chuyến này ở lại lâu không?
- Ðộ vài ngày thôi ông ạ!
- Vâng, có thế!
Câu chuyện chào hỏi giữa ông Ry và khách chưa xong, cha bác tôi cầm đũa lên, hỏi:
- Ðã qua giờ cơm, chắc các chú đã ăn cơm trưa ở tỉnh cả rồi, thôi để thong thả nghỉ ngơi rồi mời các chú dùng cơm chiều vậy.
Tôi lạy chúa tôi, nghe cha bác nói thế, cái bụng của tôi nó cồn cào làm sao chứ. Riêng ông Sơn, bố tôi và ông Hiện đành cười trừ lui ra, nhịn đói mà chờ cơm chiều của cha bác. Cơm nước xong, ngài đi nghỉ đến khoảng ba giờ mới dậy. Buổi chiều cha cho mời bố tôi, ông Sơn, ông Hiện và hai thằng nhóc chúng tôi lên. Chuyện trò gởi gắm một lúc, cha bảo:
- Không biết chúng có như cục bột để cho tôi nắn dạy như nhời chú nói hay không. Hay là chỉ mắng vài câu là chúng bỏ chạy cho bằng hết! Người ngoài thì dễ, nhưng con cháu trong nhà khó lòng lắm!
Oâng Sơn nhanh nhảu thưa:
- Dạ không đâu ạ, xin cha cứ sửa dạy chúng cho.
Câu chuyện gởi con, gởi cháu tạm chấm dút, buổi chiều hôm ấy, ba ông khách và hai thằng béù được mời ăn cơm& thịnh soạn gồm có rau muống luộc và cá kho ở căn phòng trống gần buồng ngủ của thầy xứ ở nhà dưới. Cơm nước xong, hai đứa tôi lại được gọi lên để tập hầu cơm cha. Ðây là một việc tôi chưa từng nghe trước đây, nhưng hôm ấy tôi phải làm. Sau khi hỏi tên lại một lần nữa cha Tụng chỉ vào tôi, bảo:
- Con đọc sách cho cha nghe, còn Hiền thì ngày mai.
Nói xong cha mở ngay một đoạn trong cuốn tân hay cựu ước gì đó ra cho tôi đọc. Bùi Ðức Hiền tưởng là thoát nạn, ai dè, ông già Ry gặp dịp tốt, nhét ngay vào trong tay cậu giúp lễ tương lai một cái quạt. Bùi đức Hiền cầm cái quạt mà chả biết làm gì. Hắn ta đang định chụm lại để đập ruồi. Oâng già Ry nhanh nhẹn kéo Hiền lại phía sau chổ cha ngồi ăn cơm và bảo:
- Cậu cầm cái quạt như thế này này, cậu quạt đều cho cha dùng bữa.
Nghe lời chỉ dẫn, cái quạt từ phía sau lưng cha Tụng bắt đầu phì phạch và nhanh dần, trong lúc phía trước mặt của ngài, tiếng tôi sang sảng vang lên. Trước khi ăn tráng miệng, tôi được lệnh ngừng đọc để ngài trò truyện với ba ông khách quý. Aên xong, tôi và Hiền được ngài trọng thưởng vì cái công đọc sách giỏi và quạt đều tay. Phần thưởng là một quả chuối. Ngài cắt ra và chia cho mỗi đứa một nửa.
Hôm sau, bố tôi, ông Sơn và ông Hiện ra tàu về sớm. Hai đứa tôi bị chôn chân ở lại cái vùng không thấy một bóng xe nào này. Có thể nói, Long Phước còn nghèo hơn quê của tôi nhiều. Tôi và Hiền lang thang ở chung quanh nhà thờ mãi mà chẳng tìm ra một bóng thân thuộc nào. Nếu không có các anh lớn như Thịnh, Thượng, Ðoài, Hải thì chắc bọn tôi đã theo chân bố mà về từ khuya rồi. Những lúc lang thang ấy, tôi nhớ đến ngày khai trường, muốn về như lời dặn dò của thằng Cui, nhưng tiền không có và cũng chẳng biết đường nào mà về, nên đành ở lại học tu. Rồi kể từ sau chuyến đi này cho đến hôm nay, tôi vẫn chưa quên câu nói đầu tiên của cha bác:
- Các chú đã ăn cơm ở bên tỉnh cả rồi chứ? Vậy nghỉ ngơi rồi dùng cơm chiều nhá!
Những vật chắn, bao bọc chúng tôi không còn, hai đứa ngồi co ro nhìn nhau. Cha Tụng gọi lên, sau bài giảng đầu tiên của ngài, hai đứa tôi được các anh lớn dẫn đi tập giúp lễ và dạy đọc những lời thưa kinh bằng tiếng la tinh trong khi giúp lễ. Người dậy chúng tôi là Hải và Thượng. Thượng sau này là Thượng gáo ở Giáo Hoàng Học Viện Ðà Lạt. Còn Hải thì về nhà với cô em sau khi học được một năm triết. Hai thằng tôi nom thấy Hải là tè ra quần. Lý do, Hải rất giỏi, nhưng khi khảo mà tụi tôi không thuộc thì chỉ có khóc thét lên vì hai ngón tay của Hải đã luồn xuống dưới cánh tay mà xiết lại rồi kéo lên. Những lúc ấy, Thượng gáo thấy nước mắt chảy ròng trên khuôn mặt của hai đứa trẻ mồ côi, anh ấy bảo Hải:
- Thôi, cậu để hai thằng bé ấy cho tớ giúp.
Chẳng bao lâu sau, chúng tôi đã thuần thục trong việc thưa kinh giúp lễ. Rồi trước khi về chủ
|